skip to Main Content

Chính sách quản lý ngoại hối trong thu hút dòng vốn ngoại

Cùng với quá trình mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chính sách quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dần được kiện toàn và hoàn thiện.

Thông thoáng hơn để thu hút dòng vốn ngoại

Năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối, đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, đồng thời tiếp tục sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh sửa đổi số 06/2013/UBTVQH13 năm 2013. Các quy định này đã thể chế hóa đường lối của Đảng trong việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động, tích cực xây dựng, ban hành các nghị định và thông tư nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch về quản lý ngoại hối để hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, kể từ khi gia nhập WTO, chính sách quản lý ngoại hối được áp dụng tương đối thông thoáng, nhằm ưu tiên thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Cụ thể, NHNN đã gỡ bỏ quy định về kiểm soát dòng vốn và quy định hành chính. Các nhà đầu tư nước ngoài không cần thực hiện thủ tục đăng ký tài khoản với NHNN. Nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng nguồn thu hợp pháp từ hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam để tái đầu tư, cho doanh nghiệp mà mình tham gia góp vốn vay lại, hoặc chuyển ra nước ngoài mà không phải xin phép NHNN. Không áp đặt biện pháp hành chính để hạn chế dòng vốn nước ngoài vào với mục đích hưởng chênh lệch lãi suất mà sử dụng chính sách lãi suất thấp hoặc không hưởng lãi đối với tài khoản tiền gửi thanh toán của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường Việt Nam.

Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không bị hạn chế về số lượng và được quản lý thống nhất thông qua hệ thống tài khoản vốn đầu tư. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp vào Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần mở tài khoản đầu tư gián tiếp tại các tổ chức tín dụng để thực hiện các giao dịch chuyển tiền liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp tại tổ chức tín dụng để thực hiện các giao dịch chuyển vốn liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp.

Việc giám sát thực hiện thông qua cơ chế thông tin báo cáo. Tổ chức tín dụng nơi nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mở tài khoản phải tuân thủ chế độ báo cáo định kỳ hàng tháng theo quy định của NHNN. Qua đó, NHNN có thể nắm bắt được kịp thời các thông tin về dòng vốn từ hoạt động đầu tư, từ đó có đánh giá về tác động của dòng vốn đến sự ổn định của thị trường ngoại hối nói riêng và nền kinh tế nói chung.

ảnh 2

Với khuôn khổ chính sách quản lý ngoại hối đối với đầu tư nước ngoài tương đối hoàn thiện, ngành ngân hàng đã có những đóng góp tích cực vào thành công trong chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài nói riêng.
Những kết quả cụ thể được thể hiện thông qua việc thực hiện duy trì một chính sách quản lý ngoại hối nhất quán đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mở cửa từng bước theo hướng xóa bỏ dần những hạn chế, rào cản, thủ tục hành chính, những chính sách phân biệt đối xử để tiến tới tạo ra một sân chơi thông thoáng, bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Việc nới lỏng hạn chế trong lĩnh vực quản lý ngoại hối được thực hiện theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại “Đề án định hướng lộ trình tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam”, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam theo những điều kiện, đặc thù riêng trong từng thời kỳ; phù hợp với chính sách và định hướng chung của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam.
NHNN đã từng bước xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung ứng các dịch vụ ngân hàng, tài chính thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả và có độ tin cậy cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động thanh toán, chuyển tiền, chuyển vốn, giải ngân vốn, mở, quản lý tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác.

NHNN đã kịp thời và linh hoạt trong việc đề xuất các chính sách nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc và đáp ứng các nhu cầu hợp lý, hợp pháp của nhà đầu tư trong việc mở tài khoản, chuyển vốn và lợi nhuận về nước.

Nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án trọng điểm quốc gia, đồng thời đảm bảo an toàn dự trữ ngoại hối nhà nước, NHNN làm đầu mối, chủ trì phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ về hạn mức bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ hàng năm của Chính phủ và từ năm 2017 thay thế việc xây dựng hạn mức bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ bằng việc xây dựng báo cáo về nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ của các dự án mà Chính phủ đã cam kết bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ; và theo dõi việc thực hiện chuyển đổi ngoại tệ của các dự án được Chính phủ cam kết bảo lãnh ngoại tệ.

ảnh 3

Ngoài ra, NHNN cũng tham gia góp ý, đề xuất các ý kiến phù hợp liên quan đến lĩnh vực quản lý ngoại hối đối với các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; phối hợp tham gia các tổ, nhóm công tác hoặc đàm phán liên ngành để triển khai thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trọng điểm.
Với những chính sách phù hợp để tận dụng tối đa các nguồn lực đầu tư ngoài nước, hoạt động đầu tư nước ngoài trong những năm qua đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Theo đó, trên cán cân tài chính, dòng vốn đầu tư nước ngoài luôn duy trì mức thặng dư cao. Trước năm 2006, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn ở mức khiêm tốn, bình quân chưa đến 2 tỷ USD/năm trong giai đoạn 1995 – 2006. Tuy nhiên, từ năm 2007, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có bước tăng trưởng nhảy vọt với mức giải ngân bình quân của nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này (2007 – 2018) lên tới hơn 10 tỷ USD/năm.

Trong khi đó, ở chiều ngược lại, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài mới phát sinh từ 2006 với mức bình quân khoảng trên 700 triệu USD/năm trong giai đoạn 2006 – 2018. Như vậy, xét về tương quan dòng vốn, Việt Nam là nước tiếp nhận đầu tư. Nhờ đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp lớn trong việc duy trì mức ổn định của cán cân tài chính.

Nhưng vẫn còn bất cập, hạn chế

Với bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước đang thay đổi nhanh, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, công tác quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã và đang bộc lộ một số tồn tại, hạn chế.

Một là tình trạng vốn mỏng của nhà đầu tư nước ngoài.

Trong những năm gần đây diễn ra xu hướng vay nước ngoài với kim ngạch lớn của khối các doanh nghiệp FDI. Theo số liệu thống kê của NHNN, từ năm 2014 đến nay, tổng mức vay nước ngoài của khối doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 80% tổng mức vay nước ngoài của toàn bộ nền kinh tế.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là xu hướng chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp (tăng vay nợ, giảm vốn góp) của các doanh nghiệp FDI. Nhiều dự án có vốn đầu tư nước ngoài có tổng vốn đầu tư rất lớn (dự án hàng tỷ USD) song vốn góp của nhà đầu tư rất nhỏ (thậm chí dưới 10% như các dự án của
Samsung, Hyosung Việt Nam). Qua rà soát nhanh 140 doanh nghiệp có dư nợ vay nước ngoài trung dài hạn cao, có đến 46 doanh nghiệp có tổng mức vay nước ngoài tối đa ở trên mức 4 lần vốn chủ sở hữu, trong đó 100% là doanh nghiệp FDI. Cá biệt có các doanh nghiệp FDI có mức vốn siêu mỏng, với tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu rất cao như Capitaland Tower (1.800 lần), Samsung Display (132 lần), Molenbergnatie Việt Nam (79 lần), LG Innotek Hải Phòng (55 lần)…

Thực tế, nếu chuyển vốn đầu tư dưới hình thức vốn góp, việc giảm vốn, rút vốn về nước của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ràng buộc về việc đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác (nếu có) và hoàn tất các thủ tục với cơ quan nhà nước ở nước sở tại. Trong khi đó, nếu cơ cấu vốn đầu tư chủ yếu là vốn vay, doanh nghiệp FDI có thể chuyển vốn về nước thông qua con đường trả nợ vay nước ngoài bất kỳ lúc nào theo thỏa thuận giữa các bên, đồng thời giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp do tăng chi phí tài chính của việc trả lãi vay.

Việc các doanh nghiệp FDI sử dụng chiến lược vốn mỏng (tỷ lệ vốn vay/vốn góp lớn) có thể làm suy giảm bản chất ổn định, lâu dài của dòng vốn đầu tư trực tiếp. Mặt khác, với cơ cấu tỷ lệ vốn vay cao so với vốn góp, công ty mẹ bảo toàn được lợi tức đầu tư thông qua việc thu lãi suất từ các khoản cho vay công ty con; trong khi đó, các nước tiếp nhận đầu tư lại mất một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp từ các doanh nghiệp FDI nếu không có chính sách hạn chế chiến lược vốn mỏng này.

Hai là bất cập trong khâu quản lý chi phí giai đoạn tìm hiểu thị trường của nhà đầu tư nước ngoài.

Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu chuyển một số chi phí để tìm hiểu thị trường, xúc tiến hợp tác đầu tư như tiền đặt cọc, ký quỹ giữ chỗ thuê đất, tiền bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ, các chi phí mua hàng hóa, dịch vụ, lao động… trả cho bên cung cấp tại Việt Nam.

Tuy nhiên, quy định về quản lý ngoại hối hiện hành chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển tiền cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư thông qua tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của chính nhà đầu tư đó mở tại ngân hàng được phép tại Việt Nam. Điều này có thể gây khó khăn, làm mất thời gian, chi phí cho nhà đầu tư nước ngoài do thủ tục mở tài khoản thanh toán cho người không cư trú tại Việt Nam và chuyển tiền thanh toán từ tài khoản này không đơn giản, qua nhiều công đoạn, từ đó hạn chế việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Đồng thời, nhà đầu tư nước ngoài cũng gặp vướng mắc trong việc hoàn trả ra nước ngoài đối với số tiền đã chuyển vào Việt Nam để chuẩn bị đầu tư, xác nhận số tiền đã chuyển vào thành vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài hoặc chuyển thành khoản vay nước ngoài… Điều này gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài khi triển khai dự án như hoàn thuế, ghi nhận góp đủ vốn.

Ba là nhà đầu tư nước ngoài lách Luật Đầu tư để thực hiện hoạt động đầu tư “núp bóng”

Theo quy định tại Luật Đầu tư 2014, đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế. Đối với đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tuy nhiên, phải làm thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong trường hợp góp vốn vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hoặc việc góp vốn dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Quy định nêu trên dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn do nhiều trường hợp về bản chất là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần (thậm chí nắm giữ 100% vốn) nhưng không bắt buộc phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, mà chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần.

Bất cập này gây khó khăn trong việc xác định hình thức đầu tư. Thực tế phát sinh một số trường hợp nhà đầu tư nước ngoài “núp bóng” người Việt Nam để đầu tư, kinh doanh như đầu tư thông qua các cá nhân, tổ chức Việt Nam để thành lập doanh nghiệp. Theo hình thức này, sau khi tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài sẽ mua lại cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp này ở mức dưới 51% vốn điều lệ nhằm mục đích vẫn tham gia điều hành doanh nghiệp mà không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hay thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần.

Về bản chất, các hình thức đầu tư nêu trên là do nhà đầu tư đã lợi dụng sự thông thoáng của Luật Đầu tư để lách luật nhằm thực hiện hoạt động đầu tư, thuê đất, kinh doanh bất động sản tại Việt Nam… với thủ tục đơn giản, có nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh. Bất cập này dẫn tới việc khó quản lý giám sát được hình thức đầu tư này.

Bốn là bất cập liên quan tới cơ chế thông tin báo cáo, theo dõi dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Việc xây dựng và thực thi cơ chế thông tin báo cáo đầy đủ, chính xác và kịp thời đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài tại các cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn và thách thức. Tình trạng này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân: Cơ sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin thu thập số liệu chưa được đầu tư đúng mức, việc thống kê số liệu còn thủ công, định kỳ báo cáo không tương đồng giữa các văn bản quy phạm pháp luật nên số liệu không được cập nhật kịp thời, độ chính xác chưa đảm bảo; Ý thức tuân thủ của các đơn vị báo cáo còn chưa cao, chưa có chế tài đủ mạnh để đảm bảo việc báo cáo được đầy đủ, đúng hạn; Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong việc thống nhất về chỉ tiêu báo cáo thống kê, kiểm tra, đối chiếu các thông tin, số liệu báo cáo từ doanh nghiệp.

Chưa có sự phân công đơn vị đầu mối tổng hợp và công bố số liệu dòng vốn đầu tư nước ngoài vì thực tế NHNN chỉ nắm bắt dòng vốn đầu tư nước ngoài bằng tiền thông qua tài khoản tại tổ chức tín dụng, Tổng cục Hải quan nắm dòng vốn bằng hàng hóa, máy móc, thiết bị…, tuy nhiên, dòng vốn góp vô hình dưới dạng sáng chế kỹ thuật, giá trị thương hiệu hiện chưa được thu thập đầy đủ.

Năm là bên cạnh những tồn tại, hạn chế nêu trên, thời gian qua cũng phát sinh một số vướng mắc liên quan đến các quy định pháp luật về ngoại hối và pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp như việc sử dụng khái niệm “đầu tư trực tiếp” và “đầu tư gián tiếp”, đối tượng phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, việc tăng vốn điều lệ và góp vốn đầu tư của doanh nghiệp FDI…

Một số khuyến nghị chính sách

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020 là “Rà soát, sửa đổi pháp luật, chính sách để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, nhất là các dự án có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sản phẩm có giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa cao, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế.

Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng nhiều lao động. Khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, điện tử, công nghệ thông tin… Có cơ chế ưu đãi linh hoạt đối với các dự án đặc thù. Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

Để thực hiện chủ trương của Đảng và đảm bảo đáp ứng các mục tiêu nêu trên, cần hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách về đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, minh bạch giữa các luật về đầu tư, kinh doanh, ngoại hối, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong đó, chính sách quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng cần tiếp tục thực hiện chủ động, linh hoạt, dựa trên nguyên tắc từng bước tự do hóa các giao dịch vốn một cách thận trọng, phù hợp với các chính sách vĩ mô khác nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và hạn chế tác động bất lợi đối với kinh tế vĩ mô, cải thiện cán cân thanh toán, góp phần phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cụ thể, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngoại hối, chủ động rà soát, nghiên cứu bổ sung, sửa đổi quy định về quản lý ngoại hối đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo hướng sửa đổi các quy định về chuyển tiền trước đầu tư, chuyển nhượng vốn đầu tư… nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn triển khai và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

Để hạn chế rủi ro trong việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá cao của doanh nghiệp do tình trạng vốn mỏng, về phía NHNN, cần xây dựng quy định về điều kiện vay nước ngoài; trong đó, dự kiến giới hạn mức vay nước ngoài của tất cả các doanh nghiệp theo tỷ lệ vốn vay/vốn góp ở một mức nhất định.

Chính sách vay nước ngoài cần có sự liên hệ chặt chẽ với chính sách khác về đầu tư. Việc yêu cầu duy trì tỷ lệ vốn vay/vốn chủ sở hữu (hoặc vốn góp) cần thống nhất với chính sách về đầu tư và được cơ quan quản lý đầu tư thông báo với các nhà đầu tư nước ngoài ngay từ giai đoạn xúc tiến đầu tư để các nhà đầu tư có kế hoạch cân đối nguồn vốn đầu tư phù hợp.

Chính phủ cần nghiên cứu, ban hành các chính sách thu hút có chọn lọc dòng vốn đầu tư nước ngoài, đảm bảo thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài không chỉ trên diện rộng mà theo chiều sâu, thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài để lại lợi nhuận để tái đầu tư, gắn vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài với vấn đề bảo vệ môi trường, ưu tiên thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng cao, đặc biệt chú trọng vấn đề chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững; nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính theo hướng mở rộng các công cụ tài chính theo lộ trình phù hợp để các chủ thể tham gia thị trường có cơ sở thực hiện các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro.

Kiện toàn cơ chế báo cáo, thống kê số liệu, chia sẻ thông tin giữa các bộ ngành, khẩn trương triển khai việc kết nối cổng thông tin quốc gia về đầu tư và doanh nghiệp giữa các bộ, ngành (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, NHNN…). Từ đó, nâng cao khả năng tổng hợp, khai thác, chia sẻ thông tin, số liệu đăng ký và số thực hiện liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm kịp thời phục vụ công tác hoạch định chính sách và xây dựng cán cân thanh toán quốc tế. Đây là giải pháp trọng tâm và có tính chất quyết định hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Nhìn chung, sau 30 năm thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế, cải thiện uy tín và vị thế chính trị – ngoại giao – kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài chưa tương xứng so với kỳ vọng, xét trên các phương diện tiếp nhận về công nghệ, vốn và tạo công ăn việc làm cho nền kinh tế. Để đảm bảo đáp ứng các mục tiêu mà Đảng đã đề ra, việc hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách về đầu tư nước ngoài được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó đối với chính sách quản lý ngoại hối với đầu tư nước ngoài nói riêng, trong thời gian tới, NHNN cần tiếp tục rà soát, chủ động đề xuất kiện toàn các quy định quản lý ngoại hối về đầu tư nước ngoài nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa dòng vốn đầu tư nước ngoài, góp phần ổn định các cân đối vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *